PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Một cách giảng dạy "Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS,1.12.2003"


BTHUY
05-12-2009, 22:28
MỘT CÁCH GIẢNG DẠY “THÔNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG CHỐNG AIDS, 1.12.2003” (Cô-phi An-nan),
NGỮ VĂN 12, THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
Nguyễn Thị Bảo Thúy
Trường THPT Bảo Lộc, Bảo Lộc, Lâm Đồng

A. MỞ ĐẦU

Cùng với việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa theo quan điểm tích hợp, tích hợp đã và đang là một trong những xu thế dạy học mới được vận dụng trong nhà trường phổ thông, góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Từ 2002, Bộ Giaó dục và Đào tạo đã khẳng định trong “Chương trình THPT môn Ngữ văn”: “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn, quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy, quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập, tích hợp trong chương trình, tích hợp trong sách giáo khoa, tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh…”. Do đó, giáo viên phải nghiên cứu, vận dụng cách dạy học tích hợp vào giảng dạy và học tập Ngữ văn.
Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp. Trong lí luận dạy học, “tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó.”(2, 5).
Với bộ môn Ngữ văn, tích hợp được hiểu là “sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc”(2, 27)
Vận dụng quan điểm tích hợp vào giảng dạy Ngữ văn xuất phát từ quan điểm liên môn dựa trên sự liên kết, tương tác giữa các hợp phần tri thức và kĩ năng, trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hóa nghệ thuật…và từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xóa bỏ lối học theo kiểu khép kín, tách biệt nhà trường và cuộc sống, kiến thức với kĩ năng vận dụng, thực hành…Đó là cách khắc phục, hạn chế lối dạy học cũ nhằm nâng cao năng lực sử dụng kiến thức và kĩ năng mà học sinh lĩnh hội được vào cuộc sống.
Từ lí thuyết đến thực hành, giáo viên sẽ làm gì và làm như thế nào để có thể vận dụng quan điểm tích hợp vào giảng dạy Ngữ văn một cách hiệu quả nhất? Phạm vi bài viết này, chúng tôi đề xuất “Một cách giảng dạy “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS” (Cô-phi An-nan), Ngữ văn 12, theo quan điểm tích hợp”.





B. NỘI DUNG

I. MẤY NHẬN XÉT VỀ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY
1. Thuận lợi
- Giaó viên đã được bồi dưỡng thường xuyên về lí thuyết quan điểm dạy học tích hợp.
- Xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là cơ sở, là đòi hỏi buộc giáo viên phải thay đổi cách dạy mà một trong những vấn đề góp phần đổi mới phương pháp dạy học chính là dạy học theo quan điểm tích hợp.
2. Khó khăn
- Chương trình Ngữ văn THPT và vấn đề quá tải vẫn là một vấn nạn với cả người dạy và người học.
- Việc đổi mới kiểm tra đánh giá và áp lực thi cử vẫn “khuyến khích” giáo viên chỉ chú ý giảng dạy nội dung bài học hơn là liên hệ mở rộng kiến thức.
- Đa số học sinh hiện nay mang tâm lí học đối phó với môn Ngữ văn.
- Từ chính giáo viên, việc đổi mới phương pháp dạy học vẫn là một vấn đề khó khăn mà nhiều người thật sự lúng túng.
- Giảng dạy văn bản nhật dụng như “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS” (Cô-phi An-nan) là khó khăn, thách thức vì văn bản nhật dụng mới đưa vào chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT.

II. GIẢI PHÁP CHO VIỆC GIẢNG DẠY “THÔNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG CHỐNG AIDS” (Cô-phi An-nan) THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

Có thể nói, việc tích hợp kiến thức giữa các phân môn trong một giờ Đọc hiểu là công việc mà tất cả giáo viên giảng dạy Ngữ văn đều thực hiện song tích hợp như thế nào cho hợp lí, không khiên cưỡng nhằm mục đích giảng dạy đạt hiệu quả cao nhất lại là vấn đề cần bàn. Ở đây, chúng tôi đề xuất một vài cách tích hợp khả thi mà có thể mang lại hiệu quả.
Tích hợp trong giảng dạy Ngữ văn là tích hợp trong nội bộ môn học, tích hợp đa môn, tích hợp liên môn, tích hợp xuyên môn. Song dạy Văn theo quan điểm tích hợp không làm mất đi những đặc thù riêng biệt, cơ bản của từng phân môn cũng như của bộ môn Ngữ văn nói chung. Tích hợp nhằm góp phần làm cho việc dạy Văn nhẹ nhàng, thú vị mà đem lại hiệu quả thiết thực nhưng không phủ định truyền thống mà kết hợp cả truyền thống và hiện đại một cách hợp lí, hiệu quả.
Việc tích hợp trong giảng dạy văn bản nhật dụng nói riêng và Ngữ văn nói chung được hiểu là chọn những điểm đồng qui giữa ba phân môn trong mỗi đơn vị bài học theo các yêu cầu cần đạt trong sách giáo khoa và sách giáo viên và tích hợp qua thiết kế giáo án và thực tế giảng dạy trên lớp. Như thế, việc tích hợp sẽ xuyên suốt trong quá trình dạy học văn bản theo các bước: Chuẩn bị bài, Kiểm tra bài cũ, Giới thiệu bài, tìm hiểu Tiểu dẫn, Đọc hiểu và Luyện tập.

II.1.Tích hợp giáo dục HS về một vấn đề xã hội: HIV/AIDS.
Trước giờ học, giáo viên cần yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm tìm hiểu các thông tin về HIV/AIDS và làm thành các sản phẩm đa phương tiện để giới thiệu về HIV/AIDS bằng cách chuẩn bị các vấn đề sau:
? HIV/AIDS là gì?
? HIV và AIDS khác nhau và liên quan với nhau như thế nào
? Vì sao HIV/ AIDS được gọi là đại dịch, là hiểm họa cho đời sống của dân tộc và nhân loại?
? Tình hình phòng chống đại dịch và hiểm họa ấy ở địa phương, đất nước và thế giới tại thời điểm chúng ta học văn bản “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS”?
? Hình ảnh, video minh họa về HIV/AIDS?
Học sinh sẽ tự học, tự chuẩn bị kiến thức về căn bệnh HIV/AID về:
- Bản chất của bệnh.
- Hội chứng.
- Cách thức lây nhiễm.
- Tác hại và hậu quả của bệnh.
- Cách phòng chống....
* Thông qua, việc chuẩn bị bài và bản “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS” học sinh một lần nữa có hiểu biết thêm về HIV/AIDS.

II.2.Tích hợp kiến thức Làm văn kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống.
Trong phân phối chương trình Ngữ văn 12, phần Làm văn tiết 7, 13, 15 là các bài học về lí thuyết và thực hành về kiểu bài Nghị luận xã hội, do đó, việc tích hợp rèn luyện kĩ năng làm văn kiểu bài Nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống ở tiết 16, 17 đọc hiểu “Thông điệp nhân ngày quốc tế phòng chống HIV/AIDS” là hết sức hợp lí vì thông qua việc đọc hiểu văn bản, học sinh được củng cố lí thuyết kiểu bài sau khi đã làm bài viết số 1 và tiếp tục rèn luyện kĩ năng để vận dụng làm bài viết số 2.
Phương pháp tích hợp trong tiết học này được tiến hành từng phần như sau:
1.1. Kiểm tra bài cũ:
Giaó viên có thể kiểm tra bài cũ của học sinh bằng cách: Kiểm tra sản phẩm đa phương tiện của các nhóm học sinh tìm hiểu về HIV/AIDS, chọn nhóm có sản phẩm tốt nhất để chuẩn bị trình bày.
1.2. Giới thiệu bài:
Tích hợp kiểm tra kiến thức về văn bản nhật dụng bằng cách phát vấn :
? Nêu tên những văn bản nhật dụng các em đã học? Từ những văn bản đó, các em nhớ gì về văn bản nhật dụng?
Từ câu trả lời của học sinh, giáo viên dẫn dắt vào bài.
1.3.Tiểu dẫn:
Khi giáo viên định hướng cho HS tìm hiểu: Thể loại văn bản, Bố cục văn bản là lúc giáo viên tích hợp kiến thức về văn bản nhật dụng và bố cục một bài văn nghị luận cho học sinh.
1.4. Đọc hiểu:
1.4.1. Nội dung của bản thông điệp
Đây là một văn bản nhật dụng do đó, khi tìm hiểu nội dung của bản thông điệp, giáo viên cần kiểm tra kiến thức của học sinh về HIV/AIDS, tích hợp giáo dục HS về HIV/AIDS.
- Chọn nhóm có sản phẩm đa phương tiện tốt trình bày 5’ những hiểu biết về HIV/AIDS, giáo viên kết hợp dẫn dắt vấn đề để học sinh tìm hiểu bài.
1.4.2. Cách tác giả điểm lại tình hình (Nghệ thuật lập luận)
Giáo viên định hướng bằng hệ thống câu hỏi và dẫn dắt học sinh tìm hiểu các vấn đề sau:
+ Là một văn bản nghị luận xã hội, phần nghị luận, Cô-phi An-nan đã nêu những vấn đề gì về việc phòng chống HIV/AIDS?
+ Các vấn đề đó được tác giả trình bày như thế nào?
+ Qua việc tìm hiểu cách điểm lại tình hình HIV/AIDS của tác giả ở bản thông điệp, các em học được điều gì về cách trình bày những hiện tượng đời sống trong một văn bản nghị luận? Đồng thời, qua văn bản, các em học được điều gì về cách lập luận trong văn nghị luận?
- Từ hệ thống câu hỏi và bài tập thảo luận nhóm có tính chất tích hợp rèn luyện kĩ năng Làm văn nghị luận, GV định hướng để học sinh nắm được những vấn đề:
+ Văn bản nhật dụng kiểu bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống, lập luận theo kết cấu 3 phần: Nêu vấn đề - Giaỉ quyết vấn đề - Kết thúc vấn đề bàn bạc về: thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp cho việc của việc phòng chống HIV/AIDS bằng các đoạn văn nghị luận tương ứng với từng luận điểm.
+ Nhắc lại “Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS” của các quốc gia nhằm nhắc nhở trách nhiệm của mọi người.
+ Nêu thực trạng các mặt đã làm được trong việc phòng chống HIV/AIDS ở các khu vực khác nhau trên thế giới, các quốc gia, các tổ chức cộng đồng nhằm động viên, khích lệ, cổ vũ tiếp tục phòng chống HIV/AIDS.
· Ngân sách phòng chống HIV tăng đáng kể.
· Qũy toàn cầu về phòng chống AIDS được thành lập.
· Các nước đã xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS...
+ Trình bày hậu quả và thực trạng tình hình HIV/AIDS bằng cách nêu số liệu cụ thể, chọn lọc để khẳng định đại dịch đang lan nhanh với cách nói gây ấn tượng:
· “Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV”.
· “ HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ”...
· Khẳng định:
. Chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005→ dự báo tình hình.
. “phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mình”.
+ Giaỉ pháp:
· Nỗ lực nhiều hơn để thực hiện cam kết.
· Công khai lên tiếng về AIDS.
· Không kì thị phân biệt đối xử với người nhiễm bệnh.
· Tha thiết kêu gọi mọi người chung tay chống HIV/AIDS.
→ “ Lẽ ra...” lối diễn đạt mở, cách lập luận ngắn gọn, bảo đảm yêu cầu toàn diện và bao quát, cách tổng kết tình hình có trọng tâm và điểm nhấn, nghệ thuật lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục với:
- Suy nghĩ sâu sắc và cảm xúc chân thành.
- Câu văn ngắn gọn, cảm xúc dồn nén, chất chứa thông tin.
- Dẫn chứng thuyết phục, sát thực...
à Tầm nhìn rộng xứng với cương vị một Tổng thư kí Liên hợp quốc;

II.3. Tích hợp rèn luyện kĩ năng làm bài viết số 2 nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống: “Đại dịch cúm AH1N1 và suy nghĩ của em”.
Trong quá trình giảng dạy “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS”, giáo viên cần liên hệ với hiện tượng đời sống đang diễn ra “nóng bỏng” hiện nay: Cúm AH1N1. Có thể liên hệ từ cách viết bài nghị luận xã hội về cúm AH1N1 với các vấn đề:
* Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài nghị luận xã hội, có bố cục 3 phần, kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.
* Yêu cầu về kiến thức:
HS có thể có những suy nghĩ khác nhau nhưng cần làm rõ các vấn đề:
1. Thực trạng về đại dịch.
2. Nguyên nhân dẫn đến đại dịch.
3. Hậu quả và tình trạng xã hội trong dịch bệnh.
4. Giải pháp cho việc phòng chống đại dịch.
5. Trách nhiệm của HS và cộng đồng trong việc phòng chống dịch bệnh.
- HS cần thể hiện rõ những hiểu biết của mình về vấn đề, thể hiện trách nhiệm của bản thân đối với mình, với cộng đồng trong việc tuyên truyền và tác động đến mọi người trong việc phòng chống cúm A H1N1.
- Bài làm thể hiện rõ phương pháp làm bài nghị luận xã hội, biết phân tích, đánh giá vấn đề từ quan điểm cá nhân và trách nhiệm với cộng đồng.
* Thông qua bài viết số 2, giáo viên có thể đánh giá trình độ học sinh về phương pháp làm bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống, kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực hành viết văn bản nhật dụng…

II.4. Bài tập dự án nhỏ: Bài Luyện tập sách giáo khoa, trang 83
Viết một bản báo cáo về tình hình phòng chống HIV/AIDS ở địa phương.
Học sinh có thể làm việc theo nhóm, thời gian một tuần, chuẩn bị tư liệu bằng cách đến các đơn vị có chức năng ở địa phương tìm hiểu thông tin, ghi chép lại, sau khi thu thập thông tin, học sinh viết văn bản.
Sản phẩm của học sinh có thể là bài viết, là sản phẩm đa phương tiện để trình bày ở tiết học sau hoặc trong ngày thế giới phòng chống AIDS: 1.12.
Bài tập dự án nhỏ cho phép học sinh đóng vai những nhà điều tra xã hội học, làm dự án.
* Thông qua bài tập, học sinh bước đầu làm quen với cách học theo dự án, một trong những hình thức góp phần đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay.

II.5. Tích hợp vận dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
- Giáo viên chuẩn bị tư liệu hoặc cho học sinh thi đua giữa các tổ, nhóm học tập tìm hiểu tư liệu: hình ảnh, Video Clip...về HIV/AIDS.
- Trong giờ học, việc giáo viên cho học sinh xem các tư liệu này (khi nhóm có sản phẩm đa phương tiện tốt trình bày) nhằm hỗ trợ việc khắc sâu kiến thức cho học sinh trong học tập.
* Thông qua tư liệu mà học sinh chuẩn bị, giáo viên có thể đánh giá việc chuẩn bị bài và ý thức học tập của học sinh. Đồng thời, giaó viên soạn giáo án điện tử để giảng dạy và sử dụng tư liệu như một bộ đồ dùng dạy học để minh họa và lưu ý tính hợp lí của phần tư liệu được vận dụng, tránh tình trạng lạm dụng công nghệ thông tin, biến giờ học thành giờ trình chiếu tư liệu.

C. KẾT LUẬN

Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy tính chất hợp lí và hiệu quả của việc tích hợp giảng dạy Làm văn trong một tiết Đọc hiểu. Hướng tích hợp phân môn, liên môn để học sinh có thể vận dụng kiến thức được học vào thực hành, liên hệ với thực tiễn đời sống là phù hợp với mục đích học tập trong xã hội hiện đại “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” (UNESCO) mà tất cả giáo viên đều hướng tới trong quá trình giảng dạy.
Sau khi vận dụng quan điểm tích hợp để giảng dạy văn bản nhật dụng “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS”, chúng tôi nhận thấy:
Nguyên tắc tích hợp trong giảng dạy Ngữ văn:
- Chỉ tích hợp những nội dung thật sự liên quan, không gượng ép, không tích hợp tràn lan bảo đảm giờ dạy tự nhiên, hợp lí, không khiên cưỡng nhằm đạt hiệu quả cao trong giảng dạy.
- Không làm tăng nội dung học tập dẫn đến quá tải.
- Các vấn đề chọn để tích hợp phải được nghiên cứu kĩ, chọn lọc cẩn thận, có đầu tư về cách thức dẫn dắt, liên hệ, đảm bảo cho HS vừa nắm vững nội dung bài vừa tăng thêm kiến thức được tích hợp.
- Tích hợp nhằm hỗ trợ các kiến thức liên môn để hỗ trợ việc rèn luyện kĩ năng cho HS.
- Đảm bảo tính hấp dẫn của các hoạt động học tập và quan trọng nhất là đảm bảo đặc trưng của môn học.
Việc tích hợp trong giảng dạy Đọc hiểu nói riêng và Ngữ văn nói chung đòi hỏi sự đầu tư của chính những giáo viên đứng lớp thể hiện cách nhìn chung về chương trình để chọn vấn đề tích hợp hợp lí và có thể có hiệu quả.
Không có PPDH nào là tối ưu, không phải cứ tích hợp vào giảng dạy đã là đổi mới PPDH, thành công trong giờ dạy là nghệ thuật sư phạm của GV, vận dụng quan điểm tích hợp trong giảng dạy chỉ là một trong những hướng đi trong xu thế đổi mới hiện nay mà giáo viên nên vận dụng, điều này không hoàn toàn bắt buộc song chính nó sẽ làm mỗi giờ lên lớp của chúng ta phong phú hơn bởi chúng ta đang làm mới chính mình.
Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là một quá trình đòi hỏi người thầy phải có nhận thức đúng: đổi mới từ từ, từng bước, không nóng vội mà thay đổi hoàn toàn, đổi mới trong việc kết hợp cả truyền thống và hiện đại. Mỗi bài, mỗi giờ lên lớp đổi mới một phần, mỗi chương đổi mới một bài nhằm bảo đảm 3 tiêu chí của một giờ học: dân chủ, tự do & hoạt động.





* TƯ LIỆU KHẢO SÁT &TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giaó dục và Đào tạo, Chương trình THPT môn Ngữ văn, 2002.
2. Bộ Giaó dục và Đào tạo, Trường ĐHSP Quy Nhơn, Mai Xuân Miên, Nguyễn Quang Cương, Trần Diệu Nữ, Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở THPT, Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên, 2003.
3. Bộ Giaó dục và Đào tạo, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB GD, 2008.
4. Bộ Giaó dục và Đào tạo, Ngữ văn 12, Tập 1, Sách giáo viên, NXB GD, 2008.
5. Phạm Tuấn Anh, Nguyễn Văn Đường, Nguyễn Trọng Hoàn, Phan Thị Lạc, Vũ Nho, Trần Thị Nhung, Giaó dục bảo vệ môi trường trong Ngữ văn Trung học phổ thông, NXB GD, 2008.