DạyhọcIntel.net  

Bộ Giáo dục
Đào tạo

Chương trình dạy học
của Intel tại Việt Nam

Tài liệu
Hướng dẫn Kỹ năng

Viện Nghiên cứu Giáo dục
ĐH Sư Phạm TP. HCM

Intel Teach Elements


Trở lại   DạyhọcIntel.net > Góc nghiệp vụ sư phạm > Công tác chuyên môn > Địa Lý

Reply
 
Công cụ chủ đề Kiểu hiển thị
Old 20-07-2009, 10:59   #1
lamdung1979
Lớp lá
Points: 2,312, Level: 13 Points: 2,312, Level: 13 Points: 2,312, Level: 13
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
lamdung1979's Avatar
 
Gia nhập: 03-2009
Đơn vị: THPT Lộc Thành
Bài viết: 23
Cảm ơn: 9
Được cảm ơn 29 lần trong 17 bài
Mặc định Thông tin cơ bản về liên minh châu âu và quan hệ việt nam-liên minh châu âu

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN MINH CHÂU ÂU


I/ Khái quát chung
- Liên minh châu Âu (tiếng Anh là The European Union, viết tắt là EU)
- Trước 1/11/1993 gọi là Cộng đồng Châu Âu (The European Communities).
- Trụ sở đặt tại Brúc-xen (Thủ đô của Bỉ)
- EU hiện có 27 nước thành viên gồm: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà lan, Lúc- xăm-bua, Anh, Ailen, Đan mạch, Hylạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thuỵ điển và Phần lan, Séc, Hungaria, Ba lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia, Malta, Síp, Bungari và Rumani.
+ Diện tích : 4.000.000 km2
+ Dân số : khoảng 493 triệu người
+ GDP : khoảng 13.000 tỷ USD (2006)
+ GDP/đầu người : 29.000 USD/năm (2006)
II/ Lịch sử
Quá trình thành lập EU bắt đầu từ 1951:
1. Hiệp ước Paris (1951) đưa đến việc thành lập Cộng đồng than thép châu Âu (ECSC).
2. Hiệp ước Roma (1957) đưa đến việc thành lập Cộng đồng nguyên tử lượng (Euratom) và thành lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC).
- Từ năm 1967 cơ quan điều hành của các Cộng đồng trên được hợp nhất và gọi là Cộng đồng châu Âu.
- Năm 1987, EU bắt đầu triển khai kế hoạch xây dựng "Thị trường nội địa thống nhất Châu Âu" năm 1992.
3. Hiệp ước Liên hiệp Châu Âu (hay còn gọi là Hiệp ước Maastricht) ký ngày 7/2/1992 ký tại Maastricht (Hà Lan), nhằm mục đích thành lập liên minh kinh tế và tiền tệ vào cuối thập kỷ 90, với một đồng tiền chung và một Ngân hàng trung ương độc lập, thành lập một liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung để tiến tới có chính sách phòng thủ chung, tăng cường hợp tác về cảnh sát và luật pháp. Hiệp ước này đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình nhất thể hóa Châu Âu. Cụ thể:
a/ Liên minh chính trị:
- Tất cả các công dân của các nước thành viên được quyền tự do đi lại và cư trú trong lãnh thổ của các nước thành viên.
- Được quyền bầu cử và ứng cử chính quyền địa phương và Nghị viện châu EU tại bất kỳ nước thành viên nào mà họ đang cư trú.
- Thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung trên cơ sở hợp tác liên chính phủ với nguyên tắc nhất trí để vẫn bảo đảm chủ quyền quốc gia trên lĩnh vực này.
- Tăng cường quyền hạn của Nghị viện châu Âu.
- Mở rộng quyền của Cộng đồng trong một số lĩnh vực như môi trường, xã hội, nghiên cứu....
- Phối hợp các hoạt động tư pháp, thực hiện chính sách chung về nhập cư, quyền cư trú và thị thực.
b/ Liên minh kinh tế - tiền tệ:
Liên minh kinh tế - tiền tệ được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ 1/7/1990: xoá bỏ mọi hình thức kiểm soát và hạn chế việc lưu chuyển vốn trong 12 nước thành viên .
Giai đoạn 2: bắt đầu từ 1/1/1994 giải tán Ủy ban thống đốc Ngân hàng Trung ương của các nước thành viên, thành lập Viện tiền tệ châu Âu để chuẩn bị việc thành lập hệ thống Ngân hàng Trung ương (đã thành lập Viện tiền tệ tại Frankfurt).
Giai đoạn 3: 1/1/1999: giải tán Viện tiền tệ châu Âu, lập Ngân hàng Trung ương châu Âu - ECB (Giám đốc hiện nay là ông Jean-Claude Trichet, cựu thống đống ngân hàng Pháp).
Điều kiện để tham gia vào liên minh kinh tế - tiền tệ (còn gọi là những tiêu chí hội nhập) là: lạm phát thấp, không vượt quá 1,5% so với mức trung bình của 3 nước có mức lạm phát thấp nhất; thâm hụt ngân sách không vượt quá 3% GDP; nợ nhà nước dưới 60% GDP và biên độ dao động tỷ giá giữa các đồng tiền ổn định trong hai năm theo cơ chế chuyển đổi (ERM); lãi suất (tính theo lãi suất công trái thời hạn từ 10 năm trở lên) không quá 2% so với mức trung bình của 3 nước có lãi suất thấp nhất.
Theo quyết định của Hội nghị cấp cao EU ở Madrid (15-16/12/1995):
- Bắt đầu thực hiện giai đoạn 3 từ 1/1/1999.
- Lập đồng tiền chung lấy tên là đồng Euro.
- Đề ra các biện pháp cụ thể để tiến hành.
Kể từ ngày 01/01/2002, đồng Euro đã chính thức được lưu hành trong 12 quốc gia thành viên (còn gọi là khu vực đồng Euro) gồm Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Phần lan, Ailen, Italia, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. 3 nước đứng ngoài là Anh, Đan mạch và Thuỵ Điển. Hiện nay, đồng Euro đang có có mệnh giá cao hơn đồng đô la Mỹ.
4. Hiệp ước Amsterdam (còn gọi là Hiệp ước Maastricht sửa đổi - ký ngày 2/10/1997 tại Amsterdam - Hà lan) đã có một số sửa đổi và bổ sung trong một số lĩnh vực chính sau:
1/ Những quyền cơ bản, không phân biệt đối xử: Bản Hiệp ước mới đề cao những nguyên lý tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền và quyền tự do cơ bản cũng như nhà nước pháp quyền thành những nguyên tắc pháp lý cơ bản chung cho tất cả các nước thành viên.
2/ Tư pháp và đối nội: Bổ sung thêm phần "Thị thực, tỵ nạn, nhập cư và những chính sách khác liên quan đến tự do đi lại" nhằm từng bước xây dựng một không gian tự do, an ninh và pháp quyền".
3/ Chính sách xã hội và việc làm: đưa nội dung Hiệp ước về phát triển ổn định và Nghị quyết về tăng trưởng - việc làm vào Hiệp ước Amsterdam.
4/ Chính sách đối ngoại và an ninh chung: Nhất trí giao cho Tổng thư ký của Hội đồng châu Âu nhiệm vụ "đại diện cấp cao về chính sách đối ngoại và an ninh chung", cùng với Chủ tịch Hội đồng Châu Âu và Chủ tịch Ủy ban Châu Âu tạo thành "bộ ba" có trách nhiệm cùng nhau xác định chiến lược đối ngoại chung theo nguyên tắc nhất trí nhưng việc thực hiện sẽ do các nước quyết định theo đa số đủ đồng thời để ngỏ khả năng mỗi nước có thể không chấp nhận những quyết định trái với lợi ích sống còn của nước mình.
5. Hiệp ước Schengen: Ngày 19/6/1990, Hiệp ước Schengen quy định quyền tự do đi lại của công dân các nước thành viên. Đối với công dân nước ngoài chỉ cần có visa của 1 nước tham gia Schengen là được phép đi lại trong toàn bộ khu vực Schengen. Hiện nay, 14/15 nước thành viên EU đã tham gia khu vực Schengen (trừ Anh). Ngoài ra còn có thêm 2 nước không phải thành viên EU cũng tham gia Schengen là Na uy và Ai xơ len.
6. Hiệp ước Nice (7-11/12/2000): tập trung vào vấn đề cải cách thể chế để đón nhận các thành viên mới.
1/ Cải cách thể chế:
- Đổi mới thành phần Ủy ban châu Âu: Ủy ban châu Âu sẽ có không quá 27 uỷ viên, trong đó mỗi nước sẽ có một uỷ viên, được chỉ định theo nguyên tắc luân phiên (thực hiện từ 2005). Chủ tịch Ủy ban châu Âu được trao thêm một số thẩm quyền mới, đặc biệt trong lĩnh vực chính sách ngoại thương. Việc lựa chọn Chủ tịch EC sẽ được thông qua theo nguyên tắc đa số đủ thẩm quyền.
- Phân định số phiếu bầu trong Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT): Pháp, Đức, Anh và Italia có cùng số phiếu là 29, Tây Ban Nha (27 phiếu), Hà Lan (13 phiếu), Bỉ (12 phiếu). Các nước còn lại sẽ có từ 3-7 phiếu. Tổng số phiếu bầu sẽ là 345 với tổng số thành viên EU là 27 nước.
- Nguyên tắc bỏ phiếu theo đa số đủ thẩm quyền: hiện đang áp dụng cho 80% quyết định. Trong 20% vấn đề còn lại, các nước vẫn giữ quyền phủ quyết (veto) của mình, nhất là những vấn đề nhạy cảm, động chạm nhiều đến lợi ích quốc gia.
2/ Tăng cường vai trò của Nghị viện châu Âu:
Số ghế trong Nghị viện được điều chỉnh lại hoàn toàn theo dân số của các nước thành viên. Đức sẽ có số ghế nhiều nhất là 99 (tăng 12 số với hiện nay), các nước Pháp, Anh, Italia chỉ còn 74 (mất 13 so với hiện nay). Tổng số nghị sỹ châu Âu trong tương lai sẽ là 728.
3/ Chính sách an ninh và quốc phòng:
EU thành lập Lực lượng phản ứng nhanh (RRF) từ năm 2003, bao gồm 100.000 quân, đảm bảo triển khai tác chiến cho ít nhất là 60.000 quân với 100 tàu chiến và 400 máy bay trong thời gian 60 ngày. RRF sẽ có cơ cấu điều hành thường trực gồm Ủy ban chính trị và an ninh; Ủy ban quân sự và bộ tham mưu đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của EU.
4/ Hiến pháp châu Âu:
Tháng 10/2004, các nhà lãnh đạo EU đã thông qua Hiến pháp châu Âu. Đây là một bước ngoặt có ý nghĩa rất lớn trong tiến trình hội nhập EU, Hiến pháp - nền tảng pháp lý thống nhất cho Liên minh châu Âu. Nội dung quan trọng đáng chú ý của văn bản là: EU sẽ có một Chủ tịch với nhiệm kỳ 5 năm (thay cho Chủ tịch luân phiên 6 tháng một lần như hiện nay); EU sẽ có một Ngoại trưởng chịu trách nhiệm về các vấn đề đối ngoại và cùng với Chủ tịch EU đại diện cho EU ở ngoài khối; thủ tục thông qua quyết định với tỉ lệ ủng hộ của ít nhất là 15 nước, đại diện cho 65% dân số toàn EU (áp dụng từ 11/2009); cho phép nước thành viên được duy trì quyền phủ quyết trong lĩnh vực chính sách đối ngoại và phòng thủ, an ninh xã hội, thuế và văn hóa; các nước có thể tự nguyện xin ra khỏi khối; phân bổ số ghế tối đa cho Nghị viện châu Âu là 750 nghị sĩ, số Ủy viên của Ủy ban châu Âu sẽ chỉ còn 17 (kể từ 2014).
Ngày 12/1/2005, Nghị viện châu Âu đã tán thành Hiến pháp với đa số phiếu thuận và kêu gọi các nước thành viên tiến hành phê chuẩn. Theo tiến trình nhất thể hóa châu Âu, tháng 11/2006, Hiến pháp EU sẽ chính thức có hiệu lực nếu tất cả 25 nước thành viên thông qua. Đến nay đã có 13 nước thông qua Hiến pháp EU dưới hình thức thông qua tại Quốc hội (Litva, Slovakia, Slovenia, Italia, Hungari, Hy Lạp, Síp, Đức, Latvia, Malta và Áo) hoặc tổ chức trưng cầu dân ý (Tây Ban Nha, Luxembourg). Pháp và Hà Lan là hai nước đầu tiên bị thất bại trong cuộc trưng cầu dân ý thông qua Hiến pháp châu Âu. Đến nay còn 8 nước chưa quyết định hình thức thông qua Hiến pháp như Ba Lan, Thụy Điển hoặc tuyên bố hoãn vô thời hạn việc tổ chức thông qua là Séc, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Ireland, Anh.
Hiện nay đang có nhiều kịch bản được tính đến nhằm đẩy mạnh nhất thể hóa châu Âu theo chiều sâu với mục tiêu nhanh chóng ổn định nội bộ EU. Dư luận đang đề cập đến khả năng trong thời gian tới, EU sẽ không có một Hiến pháp chung mà thay vào đó là một EU phát triển với nhiều tốc độ, nhiều thể chế khác nhau; song cũng có khả năng các nước thành viên sẽ đàm phán lại một số điểm đang gây tranh cãi nhiều nhất trong Hiến pháp để rồi lại thông qua ở từng nước thành viên; và cũng không loại trừ khả năng tổ chức trưng cầu dân ý lại ở những nước không ủng hộ Hiến pháp EU lần thứ nhất.
Tại Hội nghị cấp cao EU giữa kỳ 2006 vừa qua, các bên đã thống nhất sẽ khởi động việc xem xét lại Hiến pháp EU vào năm 2008 với giải pháp cụ thể.
III/ Cơ cấu tổ chức:
EU có các cơ quan chính: Nghị viện châu Âu, Hội đồng Liên minh châu Âu, Ủy ban châu Âu, Tòa án châu Âu và Tòa kiểm toán châu Âu.
1/ Nghị viện châu Âu:
Nghị viện châu Âu được đặt tại Strasbourg, gồm 732 Nghị sĩ, nhiệm kỳ 5 năm, được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Trong Nghị viện các Nghị sĩ ngồi theo nhóm chính trị khác nhau, không theo Quốc tịch.
Ngày 16/1/2007, Nghị viện châu Âu đã bỏ phiếu bầu Chủ tịch, 14 Phó Chủ tịch mới. Ông Hans Geert Poettering – trưởng nhóm các Đảng Dân chủ Thiên Chúa giao – được bầu làm Chủ tịch Nghị viện châu Âu (2007 – 2009) (Theo sự thoả hiệp giữa các đảng phái trong Nghị viện châu Âu, Chủ tịch nghị viện sẽ được bầu với nhiệm kỳ 2,5 năm). Ưu tiên của Chủ tịch mới sẽ là: cải cách thể chế, cải thiện hình ảnh của Nghị viện châu Âu…
Trong Nghị viện mới của Châu Âu, 7 nhóm chính trị mới đã được hình thành, gồm:
- Nhóm Đảng Dân tộc và Dân chủ Châu Âu (EPP-ED) gồm 268 thành viên do nghị sĩ Hans-Gert Poettering lãnh đạo.
- Nhóm Đảng Xã hội (PES) gồm 200 thành viên do nghị sĩ Martin Schulz lãnh đạo.
- Nhóm Đảng Liên minh tự do và Dân chủ Châu Âu (ALDE) gồm 88 thành viên, do nghị sĩ Graham Watson lãnh đạo.
- Nhóm Đảng Xanh và Liên minh Tự do Châu Âu (Greens/EFA) gồm 42 thành viên, do nghị sĩ Monica Frassoni lãnh đạo.
- Liên minh Thống nhất cánh tả và Đảng Xanh cánh tả Nordic (EUL/NGL) với 41 thành viên, do nghị Francis Wurtz lãnh đạo.
- Nhóm Đảng Dân chủ và Độc lập (IND/DEM) với 32 thành viên, do nghị sĩ Bruno Gollnisch lãnh đạo.
- Liên minh Châu Âu của các Dân tộc (UEN) gồm 27 thành viên do nghị sĩ Gristiana Muscardini lãnh đạo.
34 nghị sĩ còn lại không thuộc nhóm đảng nào.
- Nghị viện châu Âu có các chức năng chính: cùng Hội đồng châu Âu ban hành luật pháp; giám sát các cơ quan của Liên minh châu Âu, đặc biệt là Ủy ban châu Âu, có quyền thông qua hoặc bãi miễn các chức vụ ủy viên Ủy ban châu Âu; cùng Hội đồng châu Âu có thẩm quyền đối với ngân sách, đối với việc chi tiêu của Liên minh.
2/ Hội đồng Liên minh châu Âu:
Hội đồng Liên minh châu Âu bao gồm các Bộ trưởng đại diện cho các nước thành viên. Các nước luân phiên làm Chủ tịch với nhiệm kỳ 6 tháng. Giúp việc cho Hội đồng có Ủy ban đại diện thường trực và Ban Tổng Thư ký.
Nhiệm vụ chính của Hội đồng gồm: thông qua luật; phối hợp giữa các nước thành viên về chính sách kinh tế; ký kết các thỏa thuận giữa Liên minh châu Âu với các nước hoặc các tổ chức quốc tế; cùng với Nghị viện châu Âu thông qua ngân sách của Liên minh; phát triển các chính sách đối ngoại và an ninh chung của Liên minh châu Âu theo hướng dẫn của Hội đồng châu Âu; phối hợp sự hợp tác giữa các tòa án và lực lượng an ninh quốc gia trong các vấn đề tội phạm.
3/ Ủy ban châu Âu:
Ủy ban châu Âu đặt trụ sở tại Brúc-xen (Bỉ), có các văn phòng ở Lúc-xăm-bua, đại diện ở các nước thành viên và phái đoàn ở nhiều thủ đô trên thế giới. Chủ tịch là ông José Manuel Barroso, quốc tịch Bồ Đào Nha.
Ủy ban châu Âu là cơ quan điều hành của Liên minh châu Âu, gồm 25 Ủy viên (trong đó có 8 Ủy viên nữ): 1 Chủ tịch, 5 Phó Chủ tịch (trước đây là 2 Phó Chủ tịch) và 19 Ủy viên. Chủ tịch Ủy ban do chính phủ các nước thành viên nhất trí đề cử, còn Ủy viên là do Chủ tịch được đề cử của Ủy ban cùng với chính phủ các nước thành viên chọn ra. Cơ quan chính thức thông qua là Nghị viện châu Âu.
Ủy ban châu Âu có nhiệm kỳ 5 năm, hiện tại là khóa 2004 - 2009, bắt đầu hoạt động ngày 22/11/2004. Dưới các Ủy viên là các Tổng Vụ trưởng chuyên trách từng vấn đề, từng khu vực.
Ủy ban châu Âu có chức năng chính là đệ trình dự luật lên Nghị viện và Hội đồng châu Âu; thi hành chính sách của Liên minh châu Âu và kiểm soát ngân sách; cùng với Tòa án châu Âu thi hành luật; và, là cơ quan đại diện cho Liên minh.
Ưu tiên chính của Ủy ban là vấn đề ngân sách, thúc đẩy cải cách để tăng hiệu quả liên kết, duy trì ổn định và tăng trưởng kinh tế trong toàn EU, thông qua Hiến pháp châu Âu và vấn đề mở rộng thành viên.
4/ Toà án châu Âu:
Đặt trụ sở tại Lúc- xăm- bua, Tòa án châu Âu hiện gồm 25 thẩm phán và 8 trạng sư, do các chính phủ thoả thuận bổ nhiệm, nhiệm kỳ 6 năm. Toà án có vai trò độc lập, có quyền bác bỏ những quy định của các tổ chức của Ủy ban Châu Âu, văn phòng Chính phủ các nước nếu bị coi là không phù hợp với luật của EU.
5/ Tòa án kiểm toán châu Âu:
Đặt trụ sở tại Lúc-xăm-bua, Tòa án kiểm toán châu Âu có nhiệm vụ chính là kiểm tra tất cả doanh thu và chi tiêu của Liên minh châu Âu.
Tòa án kiểm toán hiện gồm 25 thành viên, có nhiệm kỳ 6 năm, do Hội đồng châu Âu bổ nhiệm sau khi tham khảo Nghị viện châu Âu.
QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
Tháng 11/1990, Việt Nam và Cộng đồng châu Âu thiết lập quan hệ ngoại giao
Ngày 17/7/1995, Việt Nam và Cộng đồng châu Âu ký Hiệp định hợp tác
Tháng 1/1996, Ủy ban châu Âu (EC) lập Phái đoàn đại diện thường trực và cử Đại sứ - Trưởng Phái đoàn tại Hà nội.
Tháng 9/1996 hai bên đã họp Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam - EC lần I. Đây là cuộc họp được tổ chức định kỳ 2 năm 1 lần luân phiên tại Hà Nội và Brussels.
Từ tháng 3/1997, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định hợp tác ASEAN - EU.
Trong thời gian gần đây, quan hệ Việt Nam - EU đã phát triển rất tích cực trên tất cả mọi lĩnh vực. Hai bên tăng cường tiếp xúc và trao đổi đoàn với các nước EU, các định chế của Liên minh châu Âu, kể cả ở cấp cao nhất.
Về phía Việt Nam: Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đi thăm Đức, Bỉ và Liên minh Châu Âu (tháng 3/2004); Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm chính thức Pháp (tháng 10/2004) và Anh (tháng 5/2004); Thủ tướng Phan Văn Khải dự Hội nghị cấp cao Á-Âu lần thứ 4 (ASEM 4) ở Đan Mạch và thăm chính thức Luxembourg, Bỉ và Ủy ban Châu Âu (EC, tháng 9/2002); Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thăm Anh, Italy, Thụy sĩ, Bỉ, Nghị viện châu Âu (3/2005); chuyến thăm chính thức Pháp của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (6/2005); Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm EC (9/2006).
Về phía EC: Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Romano Prodi và Cao ủy phụ trách thương mại của EC Pascal Lamy đã sang làm việc tại Việt Nam nhân dịp Hội nghị ASEM 5 (tháng 10/2004); Ủy viên Ủy ban Châu Âu David Byrne, phụ trách về An toàn thực phẩm, Y tế công cộng và Bảo vệ người tiêu dùng thăm Việt Nam (tháng 1/2004); Đặc phái viên Hans Van Den Broek của EU phụ trách về vấn đề ASEM, Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Lan thăm làm việc (tháng 7/2004); Ủy viên phụ trách Thương mại của EC, ông Peter Mandelson tham dự cuộc họp Tư vấn ASEAN - EU tại Hạ Long và làm việc với phía Việt Nam vào cuối tháng 4/2005; Tổng Vụ trưởng Đối ngoại của EC Eneko Landaburu thăm làm việc tại Việt Nam và chủ trì cuộc họp Ủy ban hỗn hợp Việt Nam - EC lần thứ 5 (4-6/10/2005); Ủy viên phụ trách An toàn Vệ sinh Thực phẩm, Y tế công cộng và Bảo vệ Người tiêu dùng M. Kyprianou sang thăm và làm việc tại Việt Nam ngày 6-8/11/2005 (đây là chuyến thăm chính thức Việt Nam đầu tiên của một Ủy viên kể từ khi Ủy ban châu Âu mới lên nhậm chức hồi tháng 11/2004); Ủy viên Đối ngoại của EC Benita Ferrero-Waldner thăm Việt Nam ngày 21-23/4/2006 (đây là chuyến thăm chính thức Việt Nam đầu tiên của một Ủy viên EC phụ trách quan hệ đối ngoại trong hơn 10 năm qua); Chủ tịch Uỷ ban tự do dân sự, tư pháp và nội vụ kiêm Chủ tịch Phái đoàn Nghị viện châu Âu quan hệ với Đông Nam Á và ASEAN ông Harmut Nassauer thăm và làm việc tại Việt Nam ngày 21 – 26/5/2006.
1. Quan hệ chính trị:
Cấp cao Việt Nam - EU đầu tiên tại Hà Nội: Nhân dịp Hội nghị Cấp cao ASEM 5, Việt Nam và EU đã tổ chức thành công cuộc họp cấp cao Việt Nam - EU đầu tiên tại Hà Nội (ngày 7/10/2004) đánh dấu một đỉnh cao mới trong lịch sử quan hệ hai bên. Đây cũng là dịp quan trọng để lãnh đạo hai bên khẳng định quyết tâm chính trị, thảo luận các biện pháp và phương hướng xây dựng mối quan hệ đối tác lâu dài và toàn diện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau và hai bên cùng có lợi, vì hoà bình, ổn định và thịnh vượng trong thế kỷ 21.
Cơ chế trao đổi định kỳ Việt Nam - EU ở cấp Bộ trưởng: Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai kết quả Cuộc gặp cấp cao Việt Nam – EU, Bộ Ngoại giao đã xây dựng đề án cơ chế trao đổi định kỳ Việt Nam và EU ở cấp Bộ trưởng với mục đích mở ra kênh trao đổi cấp cao nhằm khẳng định quyết tâm chính trị đưa quan hệ giữa Việt Nam - EU phát triển chiều sâu, tạo sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, biến quan hệ đó thành "Quan hệ đối tác toàn diện và bền vững, ổn định lâu dài và tin cậy lẫn nhau" vì hòa bình, hợp tác và phát triển phồn vinh trong thế kỷ 21. Bên lề cuộc họp FMM tại Kyoto tháng 5/2005, Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên đã trao concept paper cho Ủy viên Đối ngoại của EC bà Benita Ferrero-Waldner để phía EU chính thức xem xét việc thiết lập cơ chế trao đổi với Việt Nam.
Nhân dịp chuyến thăm EC của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch EC Barroso đã nhất trí về sự cần thiết có các cuộc gặp thường xuyên giữa Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam - Uỷ viên Đối ngoại EC bên lề các hội nghị Quốc tế để trao đổi các vấn đề song phương và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm.
Đề án tổng thể quan hệ Việt Nam - EU: Để tăng cường hơn nữa quan hệ mọi mặt với Liên minh châu Âu, ngày 14/6/2005, Chính phủ đã phê duyệt Đề án Tổng thể quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu và Chương trình Hành động của Chính phủ về phát triển quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu đến 2010 và định hướng tới 2015.
Đề án Tổng thể bao gồm chủ trương của Việt Nam trong các lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại, và các lĩnh vực khác (công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, khoa học và giáo dục, văn hóa - thông tin, y tế, sở hữu trí tuệ….), cũng như chủ trương đối với các nước thành viên lớn của EU có nhiều quan hệ với Việt Nam như Pháp, Đức, Anh, các nước Bắc Âu... Việt Nam là nước đầu tiên ở Đông Nam Á chủ động có chiến lược tổng thể về hợp tác với EU.
Hàng năm, Chính phủ Việt Nam đã có cuộc họp tổng thể do một Phó Thủ tướng chủ trì với sự tham dự của Lãnh đạo các Bộ, ngành và các Đại sứ EU tại Hà Nội để cùng trao đổi về việc triển khai thực hiện Đề án. Đến nay đã có 2 cuộc họp được tổ chức (9/2005 và 10/2006).
Vấn đề dân chủ, nhân quyền: Mặc dù vẫn quan tâm đến tình hình dân chủ, nhân quyền của ta, các nước EU chuyển hướng sang cách tiếp cận dự án - tức là thông qua các chương trình hỗ trợ dự án hợp tác để thúc đẩy vấn đề nhân quyền, dân chủ ở ta. Nước giữ vị trí Chủ tịch EU đứng ra thay mặt cho các nước EU đề cập vấn đề này với Việt Nam thay cho từng nước đơn lẻ như trước đây. Từ năm 2001, Việt Nam và EU đã tiến hành thường xuyên các cuộc tiếp xúc và đối thoại không chính thức về nhân quyền. Từ giữa năm 2003, EU đề nghị ta thiết lập cơ chế đối thoại chính thức và định kỳ về dân chủ - nhân quyền một năm 2 lần và nâng cấp đối thoại nhân quyền từ cấp chuyên viên lên cấp Vụ Bộ Ngoại giao và cấp Đại sứ. Nội dung chính mà phía EU quan tâm trong các cuộc đối thoại là: các quyền tự do ngôn luận, hội họp, quyền tự do tôn giáo; tự do thông tin, tự do báo chí, vấn đề người dân tộc thiểu số.
2. Hợp tác - phát triển:
Viện trợ của Ủy ban châu Âu (EC) chia thành các giai đoạn:
1994 - 1995: 32,5 triệu Ecu/năm
1996 - 2000: 52,5 triệu Ecu/năm
2002 - 2006: 32,5 triệu Euro/năm
2007 – 2013: 43, 4 triệu Euro/năm
Ngày 28/3/2007, Uỷ ban châu Âu đã thông qua Chiến lược Hợp tác với Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2013. Chiến lược mới của EC dành cho Việt Nam khoản trợ giúp trị giá khoảng 304 triệu Euro chia làm 2 giai đoạn:
+ Chương trình định hướng I (MIP I) cho giai đoạn 2007- 2010: 160 triệu Euro.
+ Chương trình định hướng II (MIP II) cho giai đoạn 2011 – 2013: 144 triệu Euro.
Hỗ trợ tài chính của EC dành cho Việt Nam có mục tiêu chính là xoá đói giảm nghèo một cách bền vững, phù hợp với chính sách phát triển của EU, thông qua 2 trọng tâm chính là hỗ trợ Việt Nam thực hiện kế hoạch phát triển nền kinh tế xã hội và hỗ trợ y tế. Ngoài ra, EC cũng dành tài trợ cho các hoạt động liên quan đến thương mại và hỗ trợ đối thoại chiến lược giữa Việt Nam và EC.
Tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (12/2006), EU tiếp tục là nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam với mức cam kết năm 2007 là 720 triệu Euro. Tuy tổng mức cam kết năm 2007 giảm so với 2006 (năm 2006 là 799 triệu euro) nhưng phần viện trợ không hoàn lại đã tăng từ 373 triệu lên 375 triệu Euro. Đặc biệt, các khoản viện trợ này đều phù hợp với các lĩnh vực ưu tiên của ta như y tế, giáo dục, văn hoá, trồng rừng, bảo vệ môi trường, cấp thoát nước, vệ sinh đô thị, cải cách hành chính, xoá đói giảm nghèo, đẩy mạnh hội nhập quốc tế.
Về tổng thể, EU là một trong những đối tác viện trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam. Các nước EU đang nỗ lực thực hiện hài hòa hóa thủ tục ODA giữa các nước thành viên và với các nhà tài trợ khác với mục đích phân công và phối hợp trong từng lĩnh vực và nâng cao hiệu quả tốc độ giải ngân.
Các dự án hợp tác của EC đều tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên của ta là: 1/ Phát triển nông thôn nhằm giảm khoảng cách giàu - nghèo, hỗ trợ vùng sâu vùng xa, miền núi. 2/ Phát triển nguồn nhân lực. 3/ Phát triển y tế giáo dục. 4/ Hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý đặc biệt trong các lĩnh vực kế toán, kiểm toán, quản lý chất lượng, sở hữu trí tuệ,.... 5/ Hỗ trợ cải cách hành chính, tư pháp, ngân hàng, tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Về thương mại:
Kim ngạch thương mại hai chiều: Kể từ năm 1995 đến nay, quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước thành viên EU tăng trung bình 15-20%/năm. EU là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, chiếm 17% tổng giao dịch thương mại (sau đó là Mỹ: 14%; Nhật Bản: 13%; và Trung Quốc: 11%).
Năm 2006 quan hệ thương mại Việt Nam-EU tiếp tục phát triển tốt mặc dù có một số biến động phức tạp (áp thuế chống phá giá giày mũ da xuất khẩu từ Việt Nam). Kim ngạch thương mại hai chiều tăng 22,2% đạt 9,9 tỷ USD (so với 8,2 tỷ USD năm 2005), trong đó xuất khẩu tăng 25% đạt 6,9 tỷ USD và nhập khẩu tăng 16% đạt 3 tỷ USD. Hiện nay, EU giữ vị trí khu vực thị trường xuất khẩu số 2 của Việt Nam, sau Hoa Kỳ. Các nhóm hàng xuất khẩu tăng trưởng cao gồm: thuỷ sản, đồ gỗ, sản phẩm nhựa, sản phẩm cao su, dệt may, thủ công mỹ nghệ, đồ chơi trẻ em...
Về xuất khẩu, các mặt hàng chủ lực có kim ngạch lớn gồm: thuỷ sản, giày dép, dệt may, cà phê, đồ thủ công mỹ nghệ và xe đạp.
Kim ngạch thuỷ sản năm 2006 đạt khoảng 731 triệu USD, tăng 67,6% so với năm 2005. Xuất khẩu thủy sản trong một số thời điểm cũng gặp khó khăn do EU thực hiện chính sách an toàn vệ sinh thực phẩm rất ngặt nghèo.
Kim ngạch giày dép đạt khoảng 1,9 tỷ USD, tăng 7,5%. Nếu không bị áp thuế chống phá giá 10% thì kết quả chắc chắn còn khả quan hơn. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn có thể cạnh tranh được trên thị trường EU, theo đó, Việt Nam vẫn giữ vị trí số 2, sau Trung Quốc.
Xuất khẩu hàng dệt may năm 2006 đạt 1215,17 triệu USD, tăng 37% so với năm 2005. Mức tăng trưởng này có phần đóng góp đáng kể của quyết sách đàm phán thoả thuận bỏ hạn ngạch dệt may trong Hiệp định Tiếp cận thị trường Việt Nam - EC 2004.
Về nhập khẩu, Việt Nam có quan hệ với hầu hết các nước thành viên EU. Trong đó, nguồn cung cấp lớn nhất là Đức và Pháp với kim ngạch nhập khẩu bình quân từ 500- 800 triệu USD/năm). Tiếp theo là I-ta-li-a, Anh và Hà Lan có kim ngạch trung bình từ 200 – 300 triệu USD/ năm. Các sản phẩm nhập khẩu chính từ EU là máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên phụ liệu dệt may da, tân dược, hoá chất và các sản phẩm hoá chất, và phương tiện vận tải.
Về việc công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường: Ta đang vận động EU sớm công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường. Từ năm 2003 đến nay, Việt Nam đã 5 lần giải trình bằng văn bản với EU và 3 lần làm việc trực tiếp với quan chức EU. Theo 5 tiêu chí của EC, Việt Nam đã đáp ứng được tiêu chí thứ 4 (hoạt động theo luật phá sản và đảm bảo tính ổn định và chắc chắn về pháp lý trong quá trình hoạt động doanh nghiệp) và tiêu chí thứ 5 (chuyển đổi tỷ giá theo tỷ giá thị trường).
Chính sách ưu đãi thuế quan mới của EU: Ngày 27/6/2005, Hội đồng Châu Âu đã thông qua các quy định mới về hệ thống ưu đãi thuế quan (GSP). GSP mới sẽ có hiệu lực trong 3 năm từ 1/1/2006 đến 31/12/2008. Theo đó, hàng hóa của Việt Nam tiếp tục được hưởng GSP như trước và không có mặt hàng nào, kể cả giày dép, bị đưa ra khỏi danh sách được hưởng GSP mới.
Chống bán phá giá giày dép xuất khẩu từ Việt Nam: Vướng mắc lớn nhất trong quan hệ thương mại Việt Nam - EU giai đoạn hiện nay là việc Ủy ban châu Âu quyết định áp mức thuế chống bán phá giá tạm thời lên mặt hàng giày có mũ da nhập khẩu từ Việt Nam ở mức 16,8%. Quyết định này đã gây thiệt hại, khó khăn lớn cho các doanh nghiệp, tác động lớn tới phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam và đời sống người lao động trong ngành giày da.
Về việc Việt Nam gia nhập WTO: Nhân dịp Hội nghị ASEM 5, Việt Nam và EU đã kết thúc đàm phán song phương về việc Việt Nam gia nhập WTO. Nhân chuyến thăm EC (9/2006) của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Việt Nam và EC cũng đã tuyên bố kết thúc đàm phán đa phương về việc Việt Nam gia nhập WTO. Đây là những bước tiến mang tính chất đột phá, có tác động tích cực đến đàm phán song phương của ta với các đối tác khác, đặc biệt trong "giai đoạn nước rút" của Việt Nam trong quá trình hòa nhập một cách đầy đủ vào cộng đồng thương mại quốc tế.
4. Về đầu tư:
Tính đến 3/2006, có 18/27 nước thành viên EU đầu tư vào Việt Nam với 551 dự án với tổng vốn đăng ký 7,34 tỷ USD, vốn thực hiện 4,06 tỷ USD. Trong đó, Pháp dẫn đầu với 168 dự án với tổng vốn đầu tư 2,8 tỷ USD, tiếp theo là Hà Lan 62 dự án với tổng vốn đăng ký gần 2 tỷ, Anh 70 dự án, tổng vốn đăng ký là 1,28 tỷ USD.
Các nhà đầu tư EU đã có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, tập trung nhiều nhất vào công nghiệp và xây dựng (280 dự án với tổng vốn đầu tư là 4,18 tỷ USD, chiếm 54,8% số dự án và 59,8% tổng vốn đầu tư), trong đó công nghiệp nặng có 118 dự án với tổng vốn đầu tư gần 1,97 tỷ USD, tiếp theo là khai thác dầu khí 6 dự án với 1,32 tỷ USD. Trong lĩnh vực dịch vụ, EU có 181 dự án với tổng vốn 2,43 tỷ USD (chiếm 35,4% số dự án và 34,6 % tổng vốn đầu tư). Còn lại là nông, lâm nghiệp - 50 dự án với tổng vốn đầu tư là 457,6 triệu USD.
Nhìn chung, các nhà đầu tư từ các nước EU có ưu thế về công nghệ và vốn nên đã góp phần tích cực trong việc tạo ra một số ngành nghề và sản phẩm mới có hàm lượng công nghệ cao. Một số tập đoàn lớn của EU đang hoạt động có hiệu quả tại Việt Nam như BP (Anh), Shell Group (Hà Lan), Total Elf Fina (Pháp Bỉ), Daimler Chrysler (Đức), Siemen, Alcatel Comvik (Thuỵ Điển)…. Xu thế đầu tư của EU chủ yếu vẫn tập trung vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, tuy nhiên, gần đây có xu hướng phát triển tập trung hơn vào các ngành dịch vụ (bưu chính viễn thông, tài chính, văn phòng cho thuê, bán lẻ).
(Nguồn sưu tầm)
lamdung1979 is offline   Trả lời kèm trích dẫn
Đã cảm ơn lamdung1979:
Reply


Những người đang xem chủ đề này: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ chủ đề
Kiểu hiển thị

Quyền đăng bài
Bạn không thể đăng chủ đề mới
Bạn không thể đăng bài trả lời
Bạn không thể đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của bạn

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off

Nhảy đến diễn đàn

Những chủ đề liên quan
Chủ đề Người khởi xướng Diễn đàn Trả lời Bài cuối
Hồ Chí Minh: Một thời đại và mãi mãi ProIT Góc trò chuyện 2 19-05-2009 12:49
Kế hoạch hành động (đã chỉnh sửa: Thủy +Minh) hoa ban 62 Q Ba Đình 4 23-10-2008 18:00
10 động vật thông minh nhất. tuyenty Tin tức - Sự kiện 0 07-10-2008 20:47
Bí Mật Mộ Khổng Minh Phongtran Mỗi ngày 1 chuyện 1 12-09-2008 07:54
Hoa Phượng Đỏ - Lê Minh Xuân - Bình Chánh betyedien Góc trò chuyện 0 15-06-2008 15:52

Tất cả giờ đều quy về GMT +7. Bây giờ là 14:17.


Powered by vBulletin® Version 3.8.3
Copyright ©2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
Thuộc quyền sở hữu của DạyhọcIntel.net